Bài 2: Phân loại các chiến lược và phương pháp dạy học

admin
7121 9 phút đọc

1. Giới thiệu

Việc ra quyết định liên quan đến chiến lược giảng dạy đòi hỏi giảng viên phải tập trung vào chương trình giảng dạy, kinh nghiệm và kiến ​​thức trước đây của sinh viên, sở thích của người học, phong cách học tập của sinh viên và trình độ phát triển của người học. Việc ra quyết định như vậy dựa vào đánh giá sinh viên liên tục được liên kết với các mục tiêu và quy trình học tập.

Năm loại chiến lược giảng dạy và mối liên hệ giữa các chiến lược được minh họa trong Hình 1. Mặc dù các chiến lược hướng dẫn có thể được phân loại, nhưng sự khác biệt không phải lúc nào cũng rõ ràng. Ví dụ, giảng viên có thể cung cấp thông tin thông qua phương pháp diễn giảng – lecture (từ chiến lược hướng dẫn trực tiếp) trong khi sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp để yêu cầu sinh viên xác định tầm quan trọng của thông tin được trình bày (từ chiến lược hướng dẫn gián tiếp).

Hình 1: Các cấp độ tiếp cận trong dạy học

2. Chiến lược dạy học trực tiếp

Chiến lược dạy học trực tiếp rất được giảng viên định hướng cao và là một trong những chiến lược được sử dụng phổ biến nhất. Chiến lược này bao gồm các phương pháp như bài giảng (diễn giảng), đặt câu hỏi giáo khoa, giảng dạy rõ ràng, thực hành và diễn tập, và trình diễn/ làm mẫu.

Chiến lược hướng dẫn trực tiếp có hiệu quả để cung cấp thông tin hoặc phát triển các kỹ năng từng bước. Chiến lược này cũng hoạt động tốt để giới thiệu các phương pháp giảng dạy khác hoặc tích cực thu hút sinh viên tham gia xây dựng kiến thức.

Dạy học trực tiếp thường là diễn dịch (deductive). Đó là, quy tắc hoặc tổng quát hóa được trình bày và sau đó được minh họa bằng các ví dụ. Mặc dù chiến lược này có thể được coi là một trong những phương pháp dễ lập kế hoạch và dễ sử dụng hơn, nhưng rõ ràng là dạy học trực tiếp hiệu quả thường phức tạp hơn so với lần đầu sử dụng.

Một số phương pháp dạy học thuộc chiến lược dạy học trực tiếp gồm diễn giảng (lecture), làm mẫu và thực hành (Drill & Practice), câu hỏi giáo khoa, đọc – nghe – nhìn – suy nghĩ được hướng dẫn và chia sẻ…

3. Chiến lược dạy học gián tiếp

Ngược lại với dạy học trực tiếp, dạy học gián tiếp lấy sinh viên làm trung tâm, tìm kiếm sự tham gia của sinh viên ở mức độ cao trong việc quan sát, điều tra, rút ​​ra suy luận từ dữ liệu hoặc hình thành giả thuyết. Nó tận dụng sự quan tâm và tò mò của sinh viên, thường khuyến khích họ đưa ra các phương án thay thế hoặc giải quyết vấn đề. Nó linh hoạt ở chỗ giải phóng sinh viên khám phá các khả năng đa dạng và giảm bớt sự sợ hãi liên quan đến khả năng đưa ra câu trả lời sai. Dạy học gián tiếp cũng thúc đẩy sự sáng tạo và phát triển các kỹ năng và khả năng giao tiếp giữa các cá nhân với nhau. Sinh viên thường hiểu rõ hơn về tài liệu và ý tưởng đang nghiên cứu và phát triển khả năng rút ra những hiểu biết này.

Trong dạy học gián tiếp, vai trò của giảng viên chuyển từ giảng viên kiểm soát sang vai trò của người khuyến khích, người hỗ trợ và nguồn tài nguyên kiến thức. Giảng viên sắp xếp môi trường học tập, tạo cơ hội cho sinh viên tham gia và, khi thích hợp, cung cấp phản hồi cho sinh viên trong khi họ tiến hành điều tra. Dạy học gián tiếp chủ yếu dựa vào việc sử dụng tài nguyên in, không in và nhân lực.

Chiến lược dạy học gián tiếp có thể được giảng viên sử dụng trong hầu hết các bài học. Chiến lược này thích hợp nhất khi:

  •  Kết quả đầu ra suy nghĩ là được mong muốn
  •  Kết quả đầu ra về thái độ, các giá trị và liên cá nhân là được mong muốn
  •  Quá trình là cũng quan trọng như sản phẩm
  •  Sinh viên cần điều tra hoặc khám phá điều gì đó để được hưởng lợi từ việc giảng dạy sau này
  •  Có nhiều hơn một câu trả lời thích hợp
  •  Trọng tâm là sự hiểu biết được cá nhân hóa và lưu giữ lâu dài các khái niệm hoặc khái quát
  •  Sự tham gia của bản ngã và động cơ nội tại là đáng mong đợi
  •  Các quyết định cần được đưa ra hoặc các vấn đề cần được giải quyết
  •  Khả năng học tập suốt đời là được mong muốn.

Để sinh viên đạt được những lợi ích tối ưu trong quá trình dạy học gián tiếp, giảng viên có thể cần phải giảng dạy trước các kỹ năng và quy trình cần thiết để đạt được kết quả học tập đã định. Các kỹ năng và quá trình bao gồm quan sát, mã hóa, nhớ lại, phân loại, so sánh / đối chiếu, suy luận, giải thích dữ liệu, dự đoán, tóm tắt, tái cấu trúc và xác minh.

Dạy học gián tiếp, giống như các chiến lược khác, có những bất lợi. Dạy học gián tiếp tốn nhiều thời gian hơn so với dạy học trực tiếp, giảng viên từ bỏ một số quyền kiểm soát, và kết quả có thể không thể đoán trước và kém an toàn hơn. Hướng dẫn gián tiếp không phải là cách tốt nhất để cung cấp thông tin chi tiết hoặc khuyến khích việc tiếp thu kỹ năng từng bước. Nó cũng không phù hợp khi muốn ghi nhớ nội dung và nhớ lại ngay lập tức.

Một số phương pháp dạy học thuộc chiến lược dạy học gián tiếp gồm giải quyết vấn đề, nghiên cứu trường hợp, đọc hiểu ý nghĩa, truy vấn, lập bản đồ khái niệm…

4. Dạy học tương tác

Dạy học tương tác chủ yếu dựa vào thảo luận và chia sẻ giữa những người tham gia. Thảo luận và chia sẻ cung cấp cho người học cơ hội để phản ứng với những ý tưởng, kinh nghiệm, sự sâu sắc và kiến ​​thức của giảng viên hoặc của những người học đồng lứa và để tạo ra những cách suy nghĩ và cảm nhận thay thế. Sinh viên có thể học hỏi từ các đồng nghiệp và giảng viên để phát triển các kỹ năng và khả năng xã hội, sắp xếp suy nghĩ của mình và phát triển các lập luận hợp lý.

Chiến lược dạy học tương tác có thể bao gồm các cuộc thảo luận toàn lớp, các cuộc thảo luận nhóm nhỏ hoặc các dự án, hoặc các cặp hoặc bộ ba sinh viên làm việc cùng nhau trên các bài tập. Điều quan trọng là giảng viên phải phác thảo chủ đề, thời lượng thảo luận, thành phần và quy mô của các nhóm, và các kỹ thuật báo cáo hoặc chia sẻ. Dạy học tương tác đòi hỏi sự tinh chỉnh của các kỹ năng và khả năng quan sát, lắng nghe, giao tiếp và can thiệp của cả giảng viên và sinh viên.

Sự thành công của chiến lược dạy học tương tác và nhiều phương pháp của nó phụ thuộc nhiều vào chuyên môn của giảng viên trong việc cấu trúc và phát triển động lực của nhóm.

Một số phương pháp dạy học thuộc chiến lược dạy học tương tác gồm tranh luận, đóng vai, động não, thảo luận, nhóm thí nghiệm, hội nghị, chia sẻ ngang hàng…

5. Học tập trải nghiệm

Học tập trải nghiệm mang tính quy nạp, lấy người học làm trung tâm và theo định hướng hoạt động. Sự phản ánh được cá nhân hóa về một trải nghiệm và việc hình thành các kế hoạch để áp dụng những điều đã học vào các bối cảnh khác là những yếu tố quan trọng trong việc học tập trải nghiệm hiệu quả. Học tập trải nghiệm xảy ra khi người học:

  •  Tham gia vào một hoạt động
  •  Nhìn lại có phê bình về những hoạt động để làm rõ những điều đã học và những cảm nhận
  •  Rút ra những hiểu biết hữu ích từ những phân tích đó
  •  Đưa việc học vào những tình huống mới.

Học tập trải nghiệm có thể được mô tả như một chu trình bao gồm năm giai đoạn, tất cả đều cần thiết:

  1. Trải nghiệm (tham gia vào một hoạt động)
  2. Chia sẻ (các phản ứng và quan sát được chia sẻ)
  3. Phân tích và xử lý (các mô hình mẫu được xác định)
  4. Suy luận và tổng quát hóa (các nguyên tắc được dẫn xuất)
  5. Áp dụng (Các kế hoạch được lập và sử dụng trong tình huống mới)

Trọng tâm trong học tập trải nghiệm là vào quá trình học hỏi chứ không phải sản phẩm. Một giảng viên có thể sử dụng học tập trải nghiệm như một chiến lược dạy học cả trong và ngoài lớp học. Ví dụ, trong lớp học, sinh viên có thể xây một bể cá hoặc tham gia vào một mô phỏng. Ví dụ, bên ngoài lớp học, họ có thể quan sát các thủ tục của phòng xử án trong quá trình nghiên cứu hệ thống pháp luật, hoặc thực hiện một cuộc khảo sát ý kiến công chúng. Học tập trải nghiệm sử dụng nhiều nguồn tài nguyên khác nhau.

Một số phương pháp khả thi cho chiến lược dạy học này gồm các chuyến đi thựa địa, tường thuật, mô phỏng, tiến hành thí nghiệm, trò chơi (games), kể chuyện, quan sát hiện trường, đóng vai, khảo sát…

6. Học tập độc lập

Học tập độc lập đề cập đến một loạt các phương pháp dạy học được cung cấp có mục đích để thúc đẩy sự phát triển của cá nhân sinh viên khởi xướng, tự lực và tự hoàn thiện. Mặc dù việc học độc lập có thể do sinh viên hoặc giảng viên bắt đầu, trọng tâm ở đây sẽ là việc học tập độc lập theo kế hoạch của sinh viên dưới sự hướng dẫn hoặc giám sát của giảng viên đứng lớp. Ngoài ra, học tập độc lập có thể bao gồm học tập trong sự hợp tác với một cá nhân khác hoặc như một phần của một nhóm nhỏ.

Học tập độc lập có ý nghĩa đối với việc ra quyết định có trách nhiệm, vì các cá nhân phải phân tích vấn đề, phản ánh, đưa ra quyết định và thực hiện các hành động có mục đích. Để chịu trách nhiệm về cuộc sống của mình trong thời kỳ xã hội thay đổi nhanh chóng, sinh viên cần có năng lực học tập suốt đời. Vì hầu hết các khía cạnh trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta có thể sẽ trải qua những thay đổi sâu sắc, học tập độc lập sẽ cho phép các cá nhân đáp ứng những nhu cầu thay đổi của công việc, gia đình và xã hội.

Một số phương pháp dạy học khả thi cho chiến lược này gồm bài tiểu luận, dạy học với sự hỗ trợ của máy tính, nhật ký học tập, bài tập về nhà, dự án nghiên cứu, viết báo cáo…

7. Phân loại các phương pháp dạy học

Sau khi quyết định các chiến lược dạy học thích hợp, giảng viên phải đưa ra các quyết định liên quan đến các phương pháp dạy học. Cũng như trường hợp của các chiến lược, sự phân biệt giữa các phương pháp không phải lúc nào cũng rõ ràng, mặc dù chúng có thể được phân loại theo các mục đích cụ thể.

Hình 3: Phân loại các phương pháp dạy học

Hình 3 minh họa phân loại các phương pháp dạy học khác nhau liên quan như thế nào đến năm chiến lược dạy học được trình bày trong bài trước. Các phương pháp xuất hiện trong sơ đồ Hình 3 chỉ là ví dụ về phương pháp dạy học, và chứ không phải bao gồm tất cả các phương pháp dạy học. Các phương pháp dạy học được sắp xếp theo chiến lược dạy học như được mô tả trong Hình 3. Sự phân loại các phương pháp dạy học chỉ là tương đối, và một phương pháp dạy học có thể xuất hiện trong cả hai loại chiến lược dạy học.

Tất cả các phương pháp dạy học này là đều đặt trên nền tảng của các kỹ năng dạy học. Chủ đề tiếp theo của tài liệu này sẽ mô tả và giải thích chi tiết hơn về từng phương pháp dạy học cụ thể, điển hình nhất.

8. Các kỹ năng dạy học

Kỹ năng giảng dạy là một phạm trù cụ thể nhất của các hành vi dạy học. Chúng được sử dụng liên tục như một phần của toàn bộ quá trình dạy học nhằm cấu trúc các trải nghiệm học tập thích hợp của sinh viên. Bất kể giảng viên có kinh nghiệm hay hiệu quả đến đâu, việc phát triển và hoàn thiện các kỹ năng và quá trình này là một thách thức liên tục. Có rất nhiều kỹ năng dạy học khác nhau, ví dụ như kỹ năng giải thích minh họa, kỹ năng đặt câu hỏi… Một số yếu tố có thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn và ứng dụng của họ bao gồm đặc điểm của sinh viên, yêu cầu của chương trình dạy học và phương pháp dạy học. Trong chủ đề tiếp theo sẽ minh họa một số kỹ năng dạy học cụ thể hơn.

admin

Chịu trách nhiệm học thuật, PGS.TS. Nguyễn Văn Hạnh
Chuyên gia nghiên cứu Khoa học Giáo dục và Phân tích định lượng.

error: Content is protected !!
0
Would love your thoughts, please comment.x
()
x