Bài 6: Học tập dựa vào trường hợp (Case-Based Learning)

admin
114 12 phút đọc

NHÓM CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC GIÁN TIẾP

Bài 6: Học tập dựa vào trường hợp (Case-Based Learning)

 

1. Học tập dựa vào trường hợp là gì ?

Trong giáo dục, trường hợp (Case) là một bản tường thuật về một tình huống, vấn đề hoặc quyết định thường bắt nguồn từ trải nghiệm thực tế.

Học tập dựa vào trường hợp (Case-based learning : CBL) là một phương pháp dạy học để thu hút sinh viên tham gia thảo luận về các trường hợp cụ thể giống hoặc điển hình trong thế giới thực. CBL là một phương pháp dạy học định hướng việc học bằng cách đọc, thảo luận và phân tích các tình huống và tình huống thực tế. Phương pháp này nhấn mạnh sự tương tác mạnh mẽ giữa những người tham gia khi họ xây dựng kiến ​​thức và làm việc cùng nhau như một nhóm để xem xét trường hợp. Vai trò của người hướng dẫn là một người cố vấn trong khi sinh viên hợp tác phân tích và giải quyết các vấn đề cũng như giải quyết các câu hỏi mở mà thường không có câu trả lời đúng. CBL cũng thúc đẩy sự phát triển của các kĩ năng nhận thức bậc cao, buộc các sinh viên phải vượt ra khỏi việc học vẹt để phân tích, lập luận, ra quyết định với sự không chắc chắn và mơ hồ, cùng với khả năng suy nghĩ độc lập và tư duy phản biện.

CBL có một số quy tắc cơ bản gồm:

  • Kể một câu chuyện.
  • Tập trung vào một vấn đề kích thích sự quan tâm.
  • Lấy bối cảnh liên quan và cập nhật.
  • Tạo sự đồng cảm với các nhân vật trung tâm.
  • Liên quan đến sinh viên.
  • Phải có tính hữu dụng về sư phạm.
  • Khiêu khích mâu thuẫn.
  • Quyết định ép buộc/ cưỡng chế.
  • Có tính tổng quát.
  • Ngắn gọn.

2. Tại sao nên sử dụng học tập dựa vào trường hợp ?

Để cung cấp cho sinh viên một cơ hội có liên quan để xem lý thuyết trong thực tế. Thế giới thực hoặc bối cảnh chân thực cho sinh viên quan điểm từ nhiều nguồn và xem tại sao mọi người có thể muốn kết quả khác nhau. Sinh viên cũng có thể thấy một quyết định sẽ tác động đến những người tham gia khác nhau như thế nào, cả tích cực và tiêu cực.

Yêu cầu sinh viên phân tích dữ liệu để đưa ra kết luận. Vì nhiều bài tập là kết thúc mở, sinh viên cũng có thể thực hành lựa chọn các kỹ thuật phân tích thích hợp. Những người hướng dẫn sử dụng phương pháp học tập dựa trên tình huống nói rằng sinh viên của họ tham gia, quan tâm và tham gia nhiều hơn vào lớp học.

Để phát triển các kỹ năng phân tích, giao tiếp và hợp tác cùng với kiến ​​thức nội dung. Trong nỗ lực tìm kiếm giải pháp và đưa ra quyết định thông qua thảo luận, sinh viên sắp xếp dữ liệu thực tế, áp dụng các công cụ phân tích, nêu rõ các vấn đề, phản ánh kinh nghiệm liên quan của họ và rút ra kết luận mà họ có thể liên quan đến các tình huống mới. Trong quá trình này, họ có được kiến ​​thức cơ bản và phát triển các kỹ năng phân tích, hợp tác và giao tiếp.

Nhiều giảng viên cũng sử dụng các trường hợp trong chương trình giảng dạy của họ để giảng dạy nội dung, kết nối sinh viên với dữ liệu cuộc sống thực hoặc tạo cơ hội cho sinh viên đặt mình vào vị trí của người ra quyết định.

3. Chuẩn bị trường hợp

i) Định dạng cho các trường hợp

  • Các trường hợp đã hoàn thành (Finished cases): chỉ để phân tích, vì giải pháp được chỉ định hoặc các giải pháp thay thế được đề xuất.
  • Các trường hợp kết thúc mở chưa hoàn thành (Unfinished open-ended cases): kết quả chưa rõ ràng (có thể vì trường hợp chưa đi đến kết luận thực tế trong cuộc sống thực, hoặc do giảng viên đã loại bỏ các dữ kiện cuối cùng.) Sinh viên phải dự đoán, lựa chọn và đưa ra các đề xuất.
  • Các trường hợp hư cấu (Fictional cases): hoàn toàn do người hướng dẫn viết – có thể kết thúc mở hoặc đã hoàn thành. Lưu ý thận trọng rằng các trường hợp phải vừa đủ phức tạp để bắt chước thực tế, vừa không có quá nhiều điểm che khuất mục tiêu của bài tập.
  • Tài liệu gốc (Original documents): tin bài, báo cáo với dữ liệu và số liệu thống kê, tóm tắt, trích dẫn các tác phẩm lịch sử, hiện vật, đoạn văn, bản ghi âm, ghi hình, v.v … Với những câu hỏi đúng, chúng có thể trở thành cơ hội giải quyết vấn đề.

ii) Viết một trường hợp

Nếu không có trường hợp nào được tạo ra hoàn hảo cho khóa học của bạn, bạn có thể viết trường hợp của riêng mình. Công việc yêu cầu rất khác nhau tùy thuộc vào tài liệu bạn quyết định cung cấp cho sinh viên.

Một giảng viên có nhiều trải nghiệm thực tế, họ có thể dễ dàng để tự biên soạn một trường hợp cụ thể để sử dụng trong lớp học của họ. Để phát triển một trường hợp, một giảng viên có thể bắt đầu bằng cách xác định mục đích của vấn đề muốn dạy gì? Nó sẽ được cung cấp vào thời điểm nào trong lớp học? Những kiến thức mà các người học sẽ hiểu biết sau bài học là gì?

Một trường hợp được biên soạn tốt thường có một cốt truyện thú vị liên quan đến trải nghiệm của người trong cuộc. Nó có sự khởi đầu, diễn biến và kết thúc. Sự kết thúc cũng có thể chưa tồn tại, nhưng nó sẽ kích thích sinh viên cung cấp câu trả lời khi một trường hợp được thảo luận. Từ đó, giảng viên viết lại trường hợp cho phù hợp và sau đó sử dụng trong lớp. Việc sử dụng lớp học cũng thường cho thấy một số khiếm khuyết mới và cần viết lại cho phù hợp để sử dụng trong những lần tiếp theo.

Có hai vấn đề lớn mà giảng viên cần phải quan tâm khi thiết kế nghiên cứu trường hợp:

1/ Mục tiêu bài học: Giảng viên cần phải xác định những mục tiêu cụ thể mà họ mong muốn sinh viên sẽ đạt được thông qua nghiên cứu trường hợp. Nhìn chung, nghiên cứu trường hợp thích hợp với các mục tiêu nhấn mạnh về ba khía cạnh là: 1/ Đánh giá việc áp dụng các khái niệm lí thuyết vào các tình huống thực tế phức tạp; 2/ Phát triển các kĩ năng giao tiếp và làm việc theo nhóm; 3/ Hình thành các nguyên tắc, đạo đức nghề nghiệp để giải quyết vấn đề.

2/ Lựa chọn và viết các nghiên cứu trường hợp: Một giảng viên có nhiều trải nghiệm thực tế, họ đã từng đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp trong thực tế giảng dạy và làm việc của riêng mình, nó thường dẫn đến những kinh nghiệm thực tế mà sinh viên nên học hỏi. Việc khai khác các sự kiện và kinh nghiệm thực tế của cá nhân sẽ giúp giảng viên đỡ tốn quá nhiều thời gian mà vẫn có thể thiết kế các nghiên cứu trường hợp hiệu quả. Trước khi viết một trường hợp của riêng bạn, hãy tự hỏi mình những câu hỏi sau để đạt được trong trường hợp:

  • Vấn đề là gì?
  • Mục tiêu của việc giải quyết vấn đề là gì?
  • Bối cảnh diễn ra vấn đề?
  • Những sự kiện quan trọng nào cần được xem xét kĩ lưỡng?
  • Những lựa chọn, quyết định nào được đặt ra?
  • Giá trị hoặc nguyên tắc cốt lõi rút ra trong trường hợp là gì?

Khi viết xong các nghiên cứu trường hợp, giảng viên nên chia sẻ, tham vấn với đồng nghiệp để lấy các ý kiến và gợi ý tốt. Giảng viên cũng nên sửa đổi trường hợp sau khi đã thực nghiệm dạy học một vài lần và phát hiện ra những điểm mạnh và hạn chế của nó.

Đây chỉ là một gợi ý về thiết kế trường hợp nhằm giúp mỗi giảng viên có thể phát triển các trường hợp của riêng họ và tiết kiệm thời gian chuẩn bị. Ngoài ra, giảng viên có thể khai thác những nghiên cứu trường hợp được biên tập trong các tài liệu giảng dạy, bài báo, tạp chí…

iii) Thiết kế các câu hỏi trường hợp

Các trường hợp có thể được “định hướng” ít nhiều bởi các loại câu hỏi được đặt ra. Những loại câu hỏi này có thể được thêm vào bất kỳ trường hợp nào hoặc có thể là một tài liệu phát cho những người tham gia chưa quen với các nghiên cứu trường hợp về cách tiếp cận dạy học này.

  • Tình huống là gì – bạn thực sự biết gì về nó khi đọc trường hợp? (Phân biệt giữa thực tế và giả định dưới sự hiểu biết quan trọng)
  • Những vấn đề được trói buộc là gì? (Cơ hội liên kết đến các bài đọc lý thuyết)
  • Bạn có câu hỏi nào – bạn vẫn cần thông tin gì? – Bạn có thể tìm thấy nó ở đâu / bằng cách nào?
  • Vấn đề gì cần được giải quyết? (Cơ hội thảo luận về giao tiếp so với xung đột, khoảng cách giữa các giả định, các mặt của lập luận)
  • Tất cả các lựa chọn có thể có là gì? Ưu / nhược điểm của mỗi tùy chọn là gì?
  • Các giả định cơ bản cho [người X] trong trường hợp — bạn thấy chúng ở đâu?
  • Bạn nên sử dụng tiêu chí nào khi chọn một phương án? Điều đó có nghĩa là gì về các giả định của bạn?

4. Các hình thức dạy học một trường hợp

i) Cuộc thảo luận trường hợp

Đây là môt hình thức dạy một trường hợp được sử dụng phổ biến mang tính kinh điển bởi các trường kinh doanh và luật để giúp sinh viên ứng phó với các vụ án/ sự việc.

– Thiết kế các cuộc thảo luận cho các nhóm nhỏ. Khoảng 3-6 sinh viên là một nhóm lý tưởng để thiết lập một cuộc thảo luận về một trường hợp.

– Thiết kế câu chuyện hoặc tường thuật sao cho yêu cầu người tham gia đưa ra phán đoán, quyết định, dự đoán hoặc kết quả cụ thể khác. Nếu có thể, yêu cầu mỗi nhóm đạt được sự đồng thuận về quyết định được yêu cầu.

– Cấu trúc cuộc thảo luận: Người hướng dẫn nên cung cấp một loạt các câu hỏi bằng văn bản để hướng dẫn thảo luận nhóm nhỏ. Chú ý cẩn thận đến trình tự của các câu hỏi. Các câu hỏi ban đầu có thể yêu cầu những người tham gia quan sát về các tình tiết của vụ việc. Các câu hỏi sau này có thể yêu cầu so sánh, đối chiếu và phân tích các quan sát hoặc giả thuyết cạnh tranh. Các câu hỏi cuối cùng có thể yêu cầu sinh viên đưa ra quan điểm về vấn đề này. Mục đích của những câu hỏi này là để kích thích, hướng dẫn hoặc thúc đẩy (nhưng không sai khiến) những quan sát và phân tích của người tham gia. Những câu hỏi không thể trả lời đơn giản là có hoặc không.

– Tóm tắt cuộc thảo luận để so sánh các câu trả lời của nhóm. Giúp cả lớp giải thích và hiểu ý nghĩa của các giải pháp của họ.

Cho phép các nhóm làm việc mà không có sự can thiệp của người hướng dẫn. Người hướng dẫn phải cảm thấy thoải mái với sự mơ hồ và chấp nhận các vai trò phi truyền thống, thay vì quyền hạn kiểm soát.

ii) Tranh luận trường hợp

Đây cũng là một hình thức rất thích hợp cho việc dạy một trường hợp từ hai quan điểm đối lập. Bạn có thể đọc thêm về cách tiến hành tranh luận trong Bài 6.1 của tài liệu này. Theo đó, giảng viên có thể chia lớp thành hai đội và để họ đưa ra các vế đối lập của một câu hỏi cụ thể. Ưu điểm là phương pháp mang tính tương tác cao cho người tham gia và cho phép sinh viên lắng nghe các ý kiến đa dạng, yêu cầu học tập hợp tác. Trong khi nhược điểm là đòi hỏi giảng viên thời gian nghiên cứu độc lập và chuẩn bị một số mặt của một vấn đề để tổ chức tranh luận.

iii) Bài giảng trường hợp: giảng viên cung cấp tài liệu theo hướng truyền tải thông tin, thường được chuẩn bị từ trước. Ưu điểm là vận chuyển vật liệu hiệu quả, trong khi nhược điểm là cho phép ít hoặc không có sự tham gia của các sinh viên.

iv) Thực nghiệm trường hợp: Nhiều vấn đề phải giải quyết trong nghiên cứu trường hợp liên quan đến khái niệm, nguyên lí khoa học, đòi hỏi những dữ liệu và quan sát thực chứng. Khi đó phải sử dụng phương pháp dựa vào thực nghiệm để học tập dựa vào trường hợp.

v) Dự án nghiên cứu trường hợp: Phương pháp dự án nên dùng cho những trường hợp lớn và dài hạn. Người học làm quen với rất nhiều kĩ thuật nghiên cứu như thảo luận, tranh luận, đo lường, chọn mẫu, thu thập dữ liệu, tập hợp và xử lí dữ liệu, đánh giá, suy luận… cũng như những kĩ năng làm việc hợp tác, kĩ năng xã hội.

5. Cách quản lý cuộc thảo luận và tranh luận

Mặc dù có nhiều hình thức dạy một trường hợp, nhưng định dạng thảo luận và tranh luận là phổ biến nhất, và cũng đòi sự kiểm soát tốt của giảng viên. Những gợi ý dưới đây có thể giúp giảng viên quản lý một cuộc thảo luận và tranh luận trường hợp một cách hiệu quả hơn:

– Trì hoãn phần giải quyết vấn đề cho đến khi phần còn lại của cuộc thảo luận có thời gian để phát triển. Bắt đầu với các câu hỏi giải thích để làm rõ sự thật, sau đó chuyển sang phân tích và cuối cùng là đánh giá, nhận định và khuyến nghị.

– Thay đổi quan điểm: “Bây giờ chúng ta đã nhìn thấy nó từ quan điểm của [W’s], điều gì đang xảy ra ở đây theo quan điểm của [Y’s]?” Bằng chứng nào sẽ hỗ trợ lập trường của Y? Động lực giữa hai vị trí là gì?

– Thay đổi mức độ trừu tượng: nếu câu trả lời cho câu hỏi trên là “Đó chỉ là một tình huống tồi tệ đối với cô ấy”, trích dẫn sẽ giúp ích: Khi [Y] nói “_____”, cô ấy có giả định gì? Hoặc tìm kiếm những lời giải thích cụ thể hơn: Tại sao cô ấy giữ quan điểm này? ”

– Hỏi những lợi ích / bất lợi của một vị trí; cho tất cả các bên.

Chuyển khung thời gian — không chỉ sang “Tiếp theo là gì?” mà còn để “Làm thế nào mà tình huống này có thể khác được?” Có thể làm gì sớm hơn để giải quyết xung đột này và biến nó thành một cuộc trò chuyện hiệu quả? Có quá muộn để sửa chữa điều này không? Điểm đòn bẩy có thể có để thảo luận hiệu quả hơn là gì? Điều tốt có thể đến với tình hình hiện tại?

– Chuyển sang bối cảnh khác: Chúng ta xem một người nghĩ X sẽ nhìn tình huống như thế nào. Một người nghĩ Y sẽ nhìn nó như thế nào? Chúng tôi thấy những gì đã xảy ra trong tin tức Johannesburg, làm thế nào điều này có thể được xử lý ở [thị trấn / tỉnh của bạn]? [Chèn người, tổ chức] có thể giải quyết vấn đề này như thế nào?

– Các câu hỏi tiếp theo: “Ý bạn là gì ___?” Hoặc, “Bạn có thể làm rõ những gì bạn đã nói về ___?” (ngay cả khi đó là một tuyên bố khá rõ ràng – điều này cho sinh viên thời gian để suy nghĩ, phát triển các quan điểm khác nhau và khám phá sâu hơn). Hoặc “Bạn sẽ làm thế nào để điều chỉnh quan sát đó với những gì [tên người] đã chỉ ra?”

– Chỉ ra và thừa nhận những điểm khác biệt trong cuộc thảo luận – “đó là một sự khác biệt thú vị so với những gì X vừa nói. Hãy xem sự khác biệt nằm ở đâu.” (Hãy để các bên làm rõ quan điểm của họ trước khi tiếp tục).

6. Cách dạy một trường hợp trong lớp học

Hình 1 dưới đây có thể giúp chúng ta dễ hình dung về vị trí của các trường hợp trong lớp học.

Hình 1: Các hoạt động trường hợp trong lớp học

Trong Hình 1, mỗi chu trình bao gồm các giai đoạn học tập gồm bài giảng truyền thống (lectures), giải quyết trường hợp (case solving), thảo luận trường hợp (case discussions), và báo cáo trường hợp (case reporting). Mỗi giai đoạn học tập bao gồm các các hoạt động tương ứng với các yêu cầu đầu vào và hoạt động tạo ra các sản phẩm của các sinh viên. Mỗi chu trình CBL sẽ bắt đầu với các bài giảng truyền thống để truyền đạt kiến thức lý thuyết, chủ yếu là khái niệm và thủ tục, từ các lý thuyết/nguyên tắc lý thuyết đến thực hành giải quyết vấn đề. Sau khi đã được cung cấp kiến thức bằng các bài giảng truyền thống, sinh viên sẽ tham gia vào giai đoạn “2. Giải quyết trường hợp”. Mỗi trường hợp đại diện cho các sự kiện thực tế trong thế giới thực mà sinh viên có thể gặp phải trong thực tế và giải quyết các thách thức được đưa ra.

  • Các trường hợp có thể được sử dụng làm chất xúc tác cho các cuộc thảo luận và bài giảng trên lớp.
  • Một cuộc thảo luận lấy sinh viên làm trung tâm có thể là một hoạt động chính trong lớp học khi sinh viên hợp tác để phân tích tình huống khó xử đầy đủ và dữ liệu được cung cấp và quyết định một cách hành động.
  • CBL có thể được sử dụng trong các lớp học nhỏ hoặc lớn.

i) Trong lớp học lớn (đông sinh viên)

  • Các trường hợp có thể là sự giới thiệu ngắn các kinh nghiệm dẫn đến các kinh nghiệm học tập bổ sung trong phòng thí nghiệm hoặc thời gian đọc thuộc lòng.
  • Một số phần của thời lượng bài giảng được sử dụng để cung cấp thông tin cơ bản về trường hợp, có thể là trong một đoạn video ngắn.
  • Có thể chia các lớp học lớn thành các nhóm nhỏ hơn, nhưng bạn cần có khả năng chịu ồn cao trong khi một vài trăm sinh viên, làm việc trong các nhóm gần nhau, thảo luận về một trường hợp.
  • Các nhiệm vụ nhóm có thể được giao để làm việc ngoài lớp và mang vào trong lớp để trình bày/ chia sẻ.

ii) Trong các lớp học nhỏ

  • Thuận lợi thực sự cho sinh viên học cách làm việc cùng nhau trong các trường hợp.
  • Các nhóm có thể nhỏ hơn và dễ dàng tương tác hơn.
  • CBL hoạt động tốt trong thiết lập này.
  • Các tùy chọn nghiên cứu sâu hơn có thể bao gồm mô hình hóa và mô phỏng, khai thác dữ liệu hoặc trực quan hóa dữ liệu.

admin

Chịu trách nhiệm học thuật, PGS.TS. Nguyễn Văn Hạnh
Chuyên gia nghiên cứu Khoa học Giáo dục và Phân tích định lượng.

error: Content is protected !!
0
Would love your thoughts, please comment.x
()
x