Bài 3. Bản chất của phương pháp khoa học (Scientific Methods)

admin
2916 9 phút đọc
Sau khi đọc xong bài này, bạn sẽ có thể:

  • –  Trình bày được lí do tại sao chúng ta tiếp cận khoa học đến hình thành kiến thức.
  • – Giải thích được các giả định cơ bản trong khoa học giáo dục.
  • – So sánh được hai phương pháp khoa học (phương pháp thăm dò và phương pháp xác nhận).

1. Tiếp cận khoa học đến hình thành kiến thức

Khoa học là một cách tiếp cận để tạo ra kiến thức. Khoa học bao gồm bất kỳ hành động có hệ thống hoặc được thực hiện cẩn thận nào được thực hiện để trả lời các câu hỏi nghiên cứu (ví dụ: mô tả sự vật, khám phá, thử nghiệm, giải thích, dự đoán). Khoa học thường liên quan đến việc áp dụng một phương pháp khoa học; tuy nhiên, như các nhà triết học và sử học khoa học đã chỉ ra, khoa học bao gồm nhiều phương pháp và hoạt động được các nhà nghiên cứu thực hiện khi họ cố gắng tạo ra tri thức khoa học. Khoa học không chấp nhận những kiến thức được cho là đúng với sự giả định; thay vào đó, nó khám phá và biện minh cho các mô tả và giải thích về con người, nhóm người và thế giới xung quanh chúng ta.

Theo thời gian, khoa học dẫn đến sự tích lũy các phát hiện, lý thuyết và kiến ​​thức cụ thể khác. Khi các nhà nghiên cứu tiến hành các nghiên cứu mới, họ cố gắng xây dựng và mở rộng các lý thuyết và kết quả nghiên cứu hiện tại. Ví dụ như sự dịch chuyển của “Cơ học Newtonian” (Newtonian mechanics) sang “Thuyết tương đối tổng quát” (General Relativity) được đặt nền móng bởi  Albert Einstein (1879-1955) vào năm 1915. Đồng thời, khoa học là sự năng động và cởi mở với những ý tưởng và lý thuyết mới. Các nhà nghiên cứu khác nhau tiếp cận nghiên cứu khác nhau, và họ thường mô tả, giải thích và diễn giải mọi thứ theo những cách khác nhau mặc dù thường bổ sung cho nhau. Nhìn chung, chúng ta có thể nói rằng khoa học là một quá trình không bao giờ kết thúc bao gồm tư duy hợp lý, dựa vào quan sát thực nghiệm, đánh giá và phản biện ngang hàng liên tục, sáng tạo tích cực và nỗ lực khám phá.

2. Các giả định cơ bản của khoa học giáo dục

Các nhà nghiên cứu giáo dục phải đưa ra một số giả định chung làm tiền đề cơ sở để họ có thể tiến hành công việc nghiên cứu giáo dục của họ. Năm giả định cơ bản của khoa học giáo dục gồm (Johnson & Christensen, 2019):

– Đầu tiên, các nhà nghiên cứu giáo dục giả định rằng có một thế giới giáo dục có thể được nghiên cứu. Trong giáo dục, điều này bao gồm nghiên cứu nhiều hiện tượng bên trong con người (ví dụ: thái độ, giá trị, niềm tin, kinh nghiệm sống), cũng như nhiều hiện tượng hoặc thể chế rộng hơn có liên quan đến con người hoặc bên ngoài với họ (ví dụ: trường học, văn hóa và môi trường vật lý). Các nhà nghiên cứu giáo dục nghiên cứu cách thức các yếu tố sau đây liên quan đến các vấn đề giáo dục: các yếu tố tâm lý (ví dụ, đặc điểm của cá nhân và các hiện tượng ở cấp độ cá nhân), các yếu tố tâm lý xã hội (ví dụ, xem xét cách thức các cá nhân tương tác và liên hệ với nhau và cách các nhóm và cá nhân ảnh hưởng đến nhau ), và các yếu tố xã hội học (ví dụ: kiểm tra cách thức các nhóm hình thành và thay đổi; ghi lại các đặc điểm của các nhóm; nghiên cứu mối quan hệ giữa các nhóm; và nghiên cứu các hiện tượng cấp độ nhóm, chẳng hạn như các thể chế văn hóa, xã hội, chính trị, gia đình và kinh tế).

– Thứ hai, các nhà nghiên cứu giả định rằng một phần của thế giới là duy nhất, một phần của thế giới là đều đặn (thường xuyên) hoặc theo khuôn mẫu hoặc có thể dự đoán được, và phần lớn thế giới là năng động (tức là luôn thay đổi) và phức tạp (ví dụ: liên quan đến nhiều mảnh hoặc yếu tố). Một nhiệm vụ quan trọng của nghiên cứu giáo dục là ghi lại những câu chuyện và kinh nghiệm của những người và nhóm cụ thể. Một nhiệm vụ quan trọng khác là xác định phần có thể dự đoán được của thế giới để tạo ra những phát hiện sẽ áp dụng cho nhiều người, nhóm, chủng loại người, bối cảnh hoặc tình huống. Để xem một ví dụ về sự đều đặn trên thế giới, lần tới khi bạn đến lớp học nghiên cứu của mình, hãy ghi lại chỗ ngồi mà bạn và một vài người xung quanh bạn đang ngồi. Khi lớp của bạn gặp lại nhau, hãy xem liệu bạn và những người khác mà bạn đã quan sát có ngồi cùng ghế như trong cuộc họp trước hay không. Bạn có thể sẽ nhận thấy rằng nhiều người ngồi trên cùng một ghế. Tại sao thế này? Điều này xảy ra bởi vì con người ở một mức độ nào đó có thể đoán trước được. Hiểu được phần có thể dự đoán được của thế giới cho phép các nhà nghiên cứu khái quát và áp dụng những phát hiện của họ ngoài những con người và địa điểm được sử dụng trong các nghiên cứu cụ thể của họ.

– Thứ ba, cái duy nhất, cái thường xuyên và cái phức tạp trên thế giới có thể được kiểm tra và nghiên cứu. Nói cách khác, “khả năng khám phá” (discoverability) tồn tại trong thế giới của chúng ta (tức là có thể ghi lại sự độc nhất, khám phá tính đều đặn thường xuyên trong hành vi của con người và đồng thời hiểu rõ hơn nhiều sự phức tạp của hành vi con người). Điều này không có nghĩa là nhiệm vụ khám phá bản chất của các hiện tượng giáo dục là đơn giản. Ví dụ, mặc dù đã đạt được nhiều tiến bộ đáng kể, nhưng chúng ta vẫn chưa biết tất cả nguyên nhân của nhiều khuyết tật trong học tập. Nghiên cứu vẫn phải tiếp tục và theo thời gian, chúng ta hy vọng sẽ tìm thấy ngày càng nhiều mảnh ghép cho những câu đố mà chúng tôi đang cố gắng giải.

– Giả định thứ tư, có các chuẩn mực và thông lệ nhất định đã được thống nhất bởi các nhà nghiên cứu. Nó có thể bao gồm việc xác định vấn đề giáo dục được quan tâm, thu thập dữ liệu thực nghiệm, thảo luận cởi mở về các phát hiện, tính chính trực, trung thực, tìm hiểu có hệ thống, trung lập đồng cảm và tôn trọng những người tham gia nghiên cứu, hoài nghi lành mạnh đối với kết quả và giải thích, cảm giác tò mò và cởi mở để khám phá, tích cực tìm kiếm bằng chứng phủ định. Nói chung, một nhà nghiên cứu giỏi cố gắng thu thập và tập hợp bằng chứng chất lượng cao và mong đợi các nhà nghiên cứu khác cũng làm như vậy. Đó là lý do tại sao điều quan trọng là các nhà nghiên cứu phải cố gắng tuân theo các tiêu chuẩn mà chúng ta đã công nhận.

– Giả định thứ năm là có thể phân biệt giữa các tuyên bố hợp lý nhiều hơn và ít hơn và giữa nghiên cứu tốt hơn và kém hơn. Ví dụ, trong nghiên cứu thực nghiệm, chúng ta có thể lựa chọn giữa các lý thuyết cạnh tranh bằng cách xác định lý thuyết nào phù hợp nhất với dữ liệu. Nếu hai lý thuyết cạnh tranh giải thích và dự đoán một hiện tượng tốt như nhau, thì lý thuyết phân biệt hơn sẽ được ưu tiên hơn theo quy tắc phân tích. Nói cách khác, những lý thuyết đơn giản được ưu tiên hơn những lý thuyết phức tạp cao, những thứ khác tương đương nhau. Chúng ta cũng có thể đánh giá chất lượng của một nghiên cứu bằng cách xem xét các chiến lược nghiên cứu được sử dụng và bằng chứng được cung cấp cho mỗi kết luận do nhà nghiên cứu rút ra. Chúng ta có thể tìm thấy một nghiên cứu chất lượng cao là đáng tin cậy hơn hoặc hợp lệ hơn một nghiên cứu chất lượng thấp.

– Giả định thứ sáu, khoa học không thể cung cấp câu trả lời cho tất cả các câu hỏi. Ví dụ, khoa học không thể giải thích tính xác thực của những tuyên bố về sự tồn tại của sự sống sau khi chết. Như bạn có thể thấy, nhiều câu hỏi quan trọng đơn giản nằm ngoài phạm vi của khoa học và nghiên cứu thực nghiệm.

3. Phương pháp khoa học (Scientific Methods)

Mặc dù việc tiến hành nghiên cứu rõ ràng không phải là một quá trình có trật tự hoàn hảo và bao gồm nhiều hoạt động, nhưng về thông thường, các nhà khoa học tiến hành hai phương pháp khoa học chính (phân biệt với nhau) gồm: phương pháp thăm dò (exploratory method) và phương pháp xác nhận (confirmatory method).

3.1. Phương pháp thăm dò

Phương pháp thăm dò bao gồm ba bước. Đầu tiên, nhà nghiên cứu bắt đầu bằng việc quan sát. Thứ hai, nhà nghiên cứu nghiên cứu các quan sát và tìm kiếm các mô hình mẫu (tức là một tuyên bố về những gì đang xảy ra). Thứ ba, nhà nghiên cứu đưa ra kết luận dự kiến ​​hoặc khái quát về mô hình mẫu hoặc cách một số khía cạnh của cách thế giới vận hành.

Phương pháp thăm dò có thể được coi là một cách tiếp cận từ dưới lên (bottom-up approach) vì nó nhấn mạnh việc bắt đầu với dữ liệu và quan sát cụ thể và khám phá những gì đang xảy ra một cách tổng quát hơn (tức là chuyển động từ dữ liệu sang các mẫu sang lý thuyết). Phương pháp thăm dò đôi khi được gọi là ‘phương pháp quy nạp’ (inductive method) vì nó chuyển từ “cái riêng sang cái chung”.

Phương pháp thăm dò là phương pháp hình thành lý thuyết (theory-generation approach). Phương pháp này tuân theo một logic của sự khám phá nói rằng hãy nhìn vào thế giới của bạn và cố gắng tạo ra các ý tưởng và xây dựng các lý thuyết về cách nó vận hành.

3.2. Phương pháp xác nhận

Phương pháp xác nhận cơ bản cũng bao gồm ba bước. Đầu tiên, nhà nghiên cứu nêu một giả thuyết, thường dựa trên lý thuyết hiện có (tức là các giải thích khoa học hiện có). Thứ hai, nhà nghiên cứu thu thập dữ liệu được sử dụng để kiểm tra giả thuyết theo các bằng chứng thực nghiệm. Thứ ba, nhà nghiên cứu quyết định tạm thời chấp nhận hay bác bỏ giả thuyết trên cơ sở dữ liệu.

Phương pháp xác nhận có thể được coi là phương pháp tiếp cận từ trên xuống vì nó nhấn mạnh quá trình bắt đầu với một lý thuyết chung và kiểm tra nó với dữ liệu cụ thể (tức là chuyển động từ lý thuyết sang giả thuyết sang dữ liệu). Phương pháp xác nhận này đôi khi được gọi là ‘phương pháp suy diễn’ (deductive method) vì nó chuyển từ “cái chung sang cái riêng”.

Phương pháp xác nhận là cách tiếp cận kiểm tra lý thuyết (theorytesting approach). Nó tuân theo một logic của sự biện minh nói rằng luôn luôn kiểm tra các lý thuyết và giả thuyết của bạn với dữ liệu mới để xem liệu chúng có hợp lý hay không.

Điểm mấu chốt là, phương pháp khoa học khám phá tập trung vào việc khám phá, tạo ra và xây dựng lý thuyết, còn phương pháp khoa học khẳng định tập trung vào việc kiểm tra hoặc biện minh lý thuyết.

Nói chung, kiến thức mới được tạo ra bằng cách sử dụng phương pháp thăm dò hoặc quy nạp, và kiến thức dự kiến này được kiểm tra hoặc chứng minh bằng cách sử dụng phương pháp xác nhận hoặc suy diễn. Mặc dù chúng ta đã nói về hai phương pháp khoa học riêng biệt (phương pháp thăm dò và phương pháp xác nhận), nhưng điều quan trọng cần hiểu là các nhà nghiên cứu sử dụng cả hai phương pháp này trong thực tế. Việc sử dụng các phương pháp này tuân theo một quy trình tuần hoàn (Hình 1).

Hình 1: Chu trình nghiên cứu

Một nhà nghiên cứu có thể tập trung vào quá trình nghiên cứu kiểm tra lý thuyết và một nhà nghiên cứu khác có thể tập trung vào hình thành lý thuyết, nhưng cả hai nhà nghiên cứu thường sẽ trải qua nhiều chu kỳ đầy đủ. Các nhà nghiên cứu định lượng (quantitative researchers) nhấn mạnh sự chuyển động từ lý thuyết sang giả thuyết đến dữ liệu đến kết luận (tức là “logic của sự biện minh”), và các nhà nghiên cứu định tính (qualitative researchers) nhấn mạnh sự chuyển động trực tiếp từ quan sát và dữ liệu sang mô tả và mô hình mẫu và để tạo ra lý thuyết (tức là “logic của khám phá”). Nói chung, kết quả của phương pháp thăm dò thường là sự ra đời của lí thuyết, trong khi kết quả của phương pháp xác nhận là công nhận/ bác bỏ lí thuyết.

Tài liệu tham khảo

  1. Lovely Professional University. Methodology of Educational Research and Statistics. Produced & Printed by Laxmi Publications (P) LTD, 2014. No 113, Golden House, Daryaganj, New Delhi-110002 for Lovely Professional University Phagwara
  2. Johnson, R. B., & Christensen, L. (2019). Educational research: Quantitative, qualitative, and mixed approaches. Sage publications.

admin

Chịu trách nhiệm học thuật, Tiến sĩ Nguyễn Văn Hạnh
Chuyên gia nghiên cứu Khoa học Giáo dục và Phân tích định lượng.

error: Content is protected !!
0
Would love your thoughts, please comment.x
()
x